Thư viện Trường

"Mãi mãi tuổi Hai mươi" và tâm hồn người lính bất tử của non sông!

10/13/2014 12:00:52 AM

“Không ai muốn cuộc đời mình phải buồn bã cả , nhưng rất ít người trên đời này đạt được điều mình mong muốn. Mất mát nhiều, nhưng cố gắng làm sao cho mình khỏi thất vọng, khỏi mất nghị lực luôn hun cháy lòng mình. Đó mới là điều quan trọng”... "Chớ quên rằng, để đêm trăng có những ngôi sao tình tự, để con người tự do mơ ước vươn tới những đỉnh cao xa, có những trái tim đầy khát vọng phải xếp vào ba lô mọi ước mơ dịu hiền nhất, mọi tương lai cá nhân quen thuộc nhất... Mà đánh giặc..."

GIỚI THIỆU TẬP NHẬT KÍ  MÃI MÃI TUỔI HAI MƯƠI

CỦA LIỆT SĨ NGUYỄN VĂN THẠC

(Hà Thị Thanh Xuân)

...Không ai muốn cuộc đời mình phải buồn bã cả, nhưng rất ít người trên đời này đạt được điều mình mong muốn. Mất mát nhiều, nhưng cố gắng làm sao cho mình khỏi thất vọng, khỏi mất nghị lực luôn hun cháy lòng mình. Đó mới là điều quan trọng...”. Đó là tiếng lòng trăn trở của một chàng trai tuổi Hai mươi. Một tuổi Hai mươi cách chúng ta ngót nghét gần nửa thế kỉ, của một tâm hồn hừng hực lửa tranh đấu, một trái tim rộn ràng nhịp đập thổn thức của tuổi thanh xuân... Anh đã sống, chiến đấu và hi sinh vì những lí tưởng cao đẹp nhất. Anh! Người đã để lại cho chúng ta những góc nhìn sâu sắc, những cảm nhận chân thành mà lắng đọng – sự lắng đọng của tuổi Hai mươi... Đó chính là tâm hồn Nguyễn Văn Thạc – người đã làm cho tuổi Hai mươi sống mãi với thời gian...

Liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc và liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm ra đi đã để lại hai cuốn nhật kí: Mãi mãi tuổi hai mươiNhật kí Đặng Thuỳ Trâm. Đọc những trang nhật kí này tất cả những người Việt Nam yêu nước, những ai có lương tri trên thế giới đều không khỏi bồi hồi xúc động. Hai con người, hai cuộc sống, hai tấm lòng đẹp đẽ biết bao. Những trang viết mà các anh chị để lại cho ta hiểu hơn về  những  tâm hồn giản dị và cao cả, về những cuộc đời  tràn đầy chất anh hùng hoà quyện chất lãng mạn cách mạng; những trang viết có sức truyền cảm sâu xa, đánh thức, khơi gợi cảm xúc trong sáng trong mỗi con người. Nhật kí của các anh chị như lời tâm sự, lời nhắn nhủ, sự  kí thác, sự gửi gắm những khát vọng cháy bỏng và cả sự  thức tỉnh tâm hồn. Các anh chị đã hy sinh, các anh chị chỉ là hai trong muôn triệu tấm gương hy sinh của thế hệ trẻ Việt Nam vì sự sống còn của dân tộc. “Họ đã sống và chết, giản dị bình tâm", có thể "không ai nhớ mặt đặt tên nhưng chính họ đã làm ra đất nước". Tấm gương của hai liệt sĩ đã góp phần thắp sáng lên ngọn lửa truyền thống yêu nước, ngọn lửa “Mãi mãi tuổi hai mươi” trong lòng lớp trẻ, giúp chúng ta hiểu hơn về một thời đạn lửa cha anh chúng ta từng không tiếc máu xương cho độc lập tự do của Tổ quốc, hiểu hơn về cái giá mà dân tộc ta phải trả cho cuộc sống hạnh phúc, yên bình hôm nay. Ta hiểu thêm về một thời:

Con gái con trai đều đội mũ tai bèo ,

Con gái con trai đều đi dép lốp

Quân phục màu xanh là Tổ quốc may

Nụ cưòi là đồng đội dạy.

Chúng con gọi phía sau là kỉ niệm

Quyển Nhật kí trắng ngần, nhật kí hành quân

Chúng  con dành cho phía trước...

(Nguyễn Bùi Vợi)

Hôm nay, cô sẽ giới thiệu với các em một trong hai cuốn nhật kí đó: Nhật kí Mãi mãi tuổi hai mươi của liệt sĩ  Nguyễn Văn Thạc.

Nguyễn Văn Thạc sinh ngày 14-10-1952 tại làng Bưởi, Hà Nội trong một gia đình thợ thủ công. Nhà nghèo, đông con, chú bé Thạc vừa đi học vừa phải đi làm thêm giúp đỡ bố mẹ nuôi sống gia đình. Thạc học rất giỏi, suốt 10 năm học phổ thông anh đều đạt học sinh A1 (danh hiệu dành cho học sinh xuất sắc toàn diện). Năm lớp 7 (hồi đó cấp 2 gồm các lớp 5.6.7) anh đạt giải Nhì trong kì thi học sinh giỏi môn Văn thành phố Hà Nội (không có giải nhất). Giặc Mỹ ném bom bắn phá miền Bắc, gia đình anh phải sơ tán về quê ở Cổ Nhuế, anh học tại trường cấp III Yên Hoà B - Hà Nội, hàng ngày phải đi bộ hơn 4 cây số đến trường; ngày nghỉ thì đi bộ hàng chục cây số đến tận thư viện Hà Nội để đọc sách. Vất vả nhưng vốn thông minh và chịu khó, anh Thạc học giỏi đều tất cả các môn, anh đặc biệt có năng khiếu về môn Văn. Năm lớp 10 (1969-1970), anh đã đạt giải Nhất cuộc thi học sinh giỏi Văn toàn miền Bắc. Với thành tích học tập kể trên, anh đã được Ban tuyển sinh Hà Nội cho đi đào tạo tại Liên Xô. Nhưng chiến tranh ác liệt xảy ra, anh cùng bao nhiêu học sinh xuất sắc khác đành phải ở lại để tham gia quân đội. Trong khi chờ gọi nhập ngũ, anh đã thi đỗ vào Khoa Toán - Cơ của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội), vừa học năm thứ nhất, anh vừa tự học thêm để hoàn thành chương trình năm thứ 2 và được nhà trường đồng ý cho lên học thẳng năm thứ 3.

Cuộc chiến đấu chống Mỹ bước vào giai đoạn mới, chiến trường miền Nam ngày càng cam go ác liệt, hàng ngàn sinh viên từ các trường Đại học phải tạm gác bút nghiên lên đường ra trận theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Anh Thạc cùng bao nhiêu bè bạn sinh viên trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nhập ngũ ngày 06-09-1971. Đơn vị của anh là một sư đoàn sinh viên và giảng viên trường Tổng hợp với hơn 300 người. Anh là lính thuộc binh chủng thông tin. Vào chiến trường miền Nam, trong một trận đánh ác liệt tại thành cổ Quảng Trị, anh đã hy sinh. Đó là ngày 30-7-1972, lúc đó anh chưa đầy 20 tuổi đời với 10 tháng tuổi quân.

Ngày 28-10-1971, tức là 28 ngày sau khi nhập ngũ, Nguyễn Văn Thạc đã ghi những dòng nhật kí đầu tiên của cuộc đời quân nhân như sau. “Nhiều lúc mình cũng không ngờ nỗi rằng mình đã đến đây. Không ngờ rằng trên mũ là một ngôi sao. Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên quá, bình thản quá và cũng đột ngột quá”. Cho đến cuối tháng 5-1972, sau gần 7 tháng trời, vừa huấn luyện, vừa hành quân vào mặt trận, mặc dù phải đi xa, đeo nặng, nhưng tranh thủ những thời gian nghỉ, anh đã viết được 240 trang nhật kí. Anh đặt tên tập nhật kí của mình là  CHUYỆN ĐỜI”. Sau này, cảm phục trước những suy nghĩ, những cảm nhận sâu sắc và ý nghĩa của cuốn nhật ký giá trị này, nhà thơ Đặng Vương Hưng đã đặt tên Mãi mãi tuổi hai mươi  khi ông sưu tầm và giới thiệu cho tất cả chúng ta .

Nguyễn Văn Thạc đã viết những gì trong “Mãi mãi tuổi Hai mươi” ?

Theo những trang nhật kí, ta hình dung được hành trình của anh lính binh nhì Nguyễn Văn Thạc. Đó là những tên đất, tên làng nơi anh đã từng đi qua, từng đóng quân, huấn luyện. Đó là những Yên sở, Yên Thế, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Thanh Hoá, Nghệ An, Cẩm xuyên, Hà Tĩnh, Quảng Bình... Theo những trang nhật kí, ta cảm nhận được cảm giác rất thật của những cuộc hành quân trong đời người lính trẻ: “Con đường rừng đầu tiên ta đi, vai nặng ba lô, mồ hôi ướt đẫm ngực, vai và sau lưng áo. Con đường dài và mất hút ...Quay lại phía sau, cũng con đường...Con đường xa lạ và gập ghềnh...

Những trang nhật kí của anh thực sự đã làm sống lại hình ảnh tuổi trẻ đất nước lên đường ra trận. Cái giây phút tạm biệt hậu phương miền Bắc để vào Nam sao mà thiêng liêng và xúc động đến vậy....

Anh quan niệm về việc viết nhật kí là viết cho mình, cho riêng mình đọc , đó là những trang viết chân thực nhất, bề bộn nhất và sầm uất nhất: “Vấn đề chủ yếu là anh viết nhật kí để làm gì? Anh có lấy Nhật kí làm người bạn đường nghiêm khắc và tốt bụng để đưa đường cho anh? Hay anh lấy nhật kí làm đồ trang sức, hay tệ hơn làm một cái bồ để trút vào đó những than thở, những suy nghĩ giả tạo, nhằm đắp điếm cho một con người giả tạo, sống rất tồi, rất nghèo nàn mà cứ tưởng mình phong phú và bận rộn lắm với công việc hàng ngày.”

Và anh đã ghi chép rất tỉ mỉ những điều mắt thấy tai nghe và cả những điều anh cảm nhận được. Đó là chuyện về gia đình những nơi anh đóng quân, chuyện về những người lính cùng đơn vị, về những cán bộ chỉ huy Tiểu đội, Trung đội, Trung đoàn... Có nhiều chuyện vui, nhưng cũng có cả những chuyện buồn. “Không ai muốn cuộc đời mình phải buồn bã cả , nhưng rất ít người trên đời này đạt được điều mình mong muốn. Mất mát nhiều, nhưng cố gắng làm sao cho mình khỏi thất vọng, khỏi mất nghị lực luôn hun cháy lòng mình. Đó mới là điều quan trọng”. Trong một trang nhật kí, anh đã viết như vậy.

Là người học giỏi Văn, nên không hiếm những đoạn, anh ghi nhật kí mà như làm Văn, với một cảm nhận tinh tế, chúng ta hãy cùng lắng nghe đoạn tâm sự sau:

- “Mùa đông chưa về đến đây. Mình yêu cái chuyển tiếp giữa hai mùa này, xốn xang trong lòng nhiều kỉ niệm. Cây sầu đông chưa mở ra những mối sầu cho mình an ủi. Chùm quả chín vàng lấm tấm trên tà áo xanh của bầu trời, nhắc mình nhớ về cái ngõ hẹp vào nhà. Ao cô Tơ còn mọc trên làn nước chùm hoa lau cho tụi con trai đánh trận hay không? Mấy cây hồng bì, cây nhãn bên sân hàng xóm có còn hay không? ngày trước, đấy là nơi tụi trẻ bán hàng và đám cưới; cái dù vàng che cô dâu, chú rể, giờ tơi tả khắp bốn phương. Kỉ niệm càng dâng lên và trào ra nước mắt. Sáng lạnh nhiều sương, gió táp, cây trên đồi chắc là buốt lắm, nằm nghĩ về những người thân yêu mà se thắt trái tim”.

Đan xen với những nhận xét về người và việc, là rất nhiều đoạn tự sự. Đó là những trang viết anh đánh giá chính bản thân mình. Có những đoạn anh tự phê bình mình gay gắt: “Không nên yếu đuối, không được chùn bước, hãy cố gắng lên, nhất định sẽ vượt qua!...

Âm hưởng chung của tập nhật kí là tinh thần lạc quan, sẵn sàng ra trận, sẵn sàng xả thân vì Tổ quốc của một thanh niên trí thức. Anh luôn trăn trở day dứt trong mình về lí tưởng sống, về quan niệm sống, luôn cảm thấy băn khoăn hổ thẹn với những người đi trước vì mình đã chưa làm được gì cho Tổ quốc. Những suy nghĩ của anh bao giờ cũng tràn ngập những cảm xúc nhiệt tình của tình yêu đất nước, của khát vọng được cống hiến, nung nấu ý chí căm thù giặc, tấm lòng vì Tổ quốc  thân yêu. Với anh, sống là cống hiến, là xả thân vì nghiệp lớn, sống là hi sinh, là quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Hình ảnh Paven Coocsaghin trong Thép đã tôi thế đấy của Ni-cô-lai Ôxtơ rôpxki, hình ảnh người thầy Đuy-sen trong Người thầy đầu tiên của Ai-ma-tôp đã trở thành thần tượng của Nguyễn Văn Thạc. Anh từng bộc bạch: “Cuộc sống của anh là một dòng mùa xuân bất tận giữa cuộc đời. Đó là cuộc sống của người Đảng viên trẻ tuổi, cuộc sống của một chiến sĩ hồng quân. Mình thèm khát được sống như thế. Sống trọn vẹn cuộc đời mình cho Đảng, cho giai cấp. Sống vững vàng trước nhưng cơn bão táp của cách mạng và của cuộc đời riêng...

Những trang viết của anh thực sự lay động đến nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn người. Trước những suy nghĩ, nhưng nung nấu như thế, ta bỗng cảm thấy hổ thẹn với cuộc đời vị kỉ và những toan tính tầm thường ích kỉ trong sự mưu sinh vì cái tôi bé nhỏ riêng mình. Hãy nghe cái khát khao đến vô tư và bỏng cháy của anh, cái vinh dự và trách nhiệm của người lính, cái ý nghĩa thiêng liêng của màu quân phục, của ngôi sao trên mũ người chiến sĩ:

- Xe ơi, lao nhanh hơn, cho ta chóng tới gia đình lớn. Nơi ta gửi gắm cả tuổi thanh xuân của mình... Vui sướng, tự hào, cảm động làm sao khi trên người ta là bộ quân phục xanh màu lá ....màu xanh của núi đồi và thảo nguyên, của ước mơ và hi vọng. Màu xanh bất diệt của sự sống. Trên mũ là ngôi sao. Ta lặng ngắm ngôi sao, như hồi nào ta chỉ cho bạn: Kia là sao Hôm yêu dấu ...Nhưng khác hơn một chút. Bây giờ ta đọc trong ngôi sao ấy, ánh lửa cầu vồng của trận công đồn, màu đỏ của lửa, của máu .

Và những lời nhắn nhủ của anh, đánh thức trong tâm hồn ta ý thức trách nhiệm với cuộc đời, lay động trong sâu thẳm lòng ta những tình cảm trong sáng mà có khi vô tình ta đã lãng quên, nhắc nhở ta hãy đừng bao giờ quên một thời lớp trẻ Việt Nam khoác ba lô lên đường ra trận, một thời các anh phải xếp vào trong ba lô mọi ước mơ khát vọng, mọi tình yêu đôi lứa, mọi cuộc sống riêng tư; một thời chiến tranh đầy máu và nước mắt, đạn bom và  những gian khổ, mất mát, hi sinh. Và hôm nay trong bát ngát bình yên của niềm vui và hạnh phúc, trong mỗi tấc đất ta đang sống có biết bao nhiêu người đã ngã xuống, có biết bao nhiêu máu xương đã đổ. Có bao giờ ta đã quên? Hãy đừng bao giờ quên:

-Ai đấy, khi nắm tay người bạn thân yêu của mình, khi cánh buồm xanh đi về, cánh cửa trời rộng mở, chớ quên dưới chân mình là cát sỏi, là hòn đất thắm đượm mồ hôi, thắm máu của bao thế hệ, mà cuộc sống của họ đã xa xôi...Ai đấy, khi khoác vai người bạn yêu quí của mình, chỉ cho bạn, kia là ngôi sao Hôm - ngôi sao Mai... Ngôi sao ban chiều và ngôi sao của bình minh. Chớ quên rằng, có buổi sáng nào, sao Mai mang màu đỏ, màu máu và màu lửa. Chớ quên rằng, để đêm trăng có những ngôi sao tình tự, để con người tự do mơ ước vươn tới những đỉnh cao xa, có những trái tim đầy khát vọng phải xếp vào ba lô mọi ước mơ dịu hiền nhất, mọi tương lai cá nhân quen thuộc nhất... Mà đánh giặc.

Nguyễn Văn Thạc cũng đã có một linh cảm thật kì lạ về ngày 30-4-1975. Không phải chỉ một lần anh nhắc đến ngày 30-4-1975, anh đã từng viết cho chị Như Anh, bạn gái của mình: ngày 30-4-1975 mới trả lời câu hỏi “Hạnh phúc là gì” của chị.

Trong  nhật kí của mình, anh Thạc đã nhắc nhiều đến chị Phạm Thị Như Anh. Đây là nhân vật được anh viết với một tình cảm đặc biệt và thường được coi như là cái cớ, là nguồn cảm hứng để anh bộc bạch mọi buồn vui.

Chị Phạm Thị Như Anh là bạn học phổ thông sau anh một lớp, cũng là học sinh giỏi Văn thành phố Hà Nội. Lúc anh Thạc nhập ngũ cũng là lúc chị Như Anh lên đường du học Liên Xô. Khi nhớ tới Như Anh, anh thường nhắc nhiều và ấn tượng nhất là chiếc áo màu xanh da trời chị thường hay mặc. Anh đã dành cho chị một tình yêu cháy bỏng, một nỗi nhớ dâng trào. Tình yêu của họ thật đẹp! Đó là tình yêu đôi lứa thời chiến tranh. Một tình yêu hòa quyện trong tình yêu Tổ quốc. Họ biết động viên nhau để cùng hoàn thành nhiệm vụ, để cùng sống có ý nghĩa hơn. Những con ngưòi đó khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau; Khi tổ quốc cần họ đã dám hy sinh tình riêng vì nghĩa lớn. Những dòng  anh viết cho chị khiến chúng ta vừa đau đớn, xúc động, vừa cảm phục:

-Như Anh, Như Anh biết không, chúng mình phải vĩnh biệt nhau đấy, chúng mình không được sống gần nhau đâu. Như Anh có cảm thấy buồn khi vĩnh viễn xa Thạc không? Thạc biết lắm, biết nhiều lắm, những gì ràng buộc mình với Như Anh và những gì ngăn cấm chúng mình. Như Anh, Như Anh quay đi đi, đừng nhìn vào Thạc nữa!.. .

Anh đã ra đi, đã lên đường, đón nhận cái chết thật bình thản. Chúng ta hãy lắng nghe đoạn nhật kí cuối cùng, để thấy hết được tâm trạng vừa hồi hộp, háo hức, vừa trống trải và bí ẩn của người lính trẻ khi biết mình sắp bước vào cõi chết mà vẫn bình thản đến bi hùng:

-Và bây giờ , tạm biệt cuốn nhật kí đầu tiên của đời lính... Ngày mai, ngày kia ... Phải để lại tất cả ở đằng sau... Kẻ thù không cho tôi ở lại - Phải đi -Tôi sẽ gửi về cuốn Nhật kí này, khi nào trở lại, khi nào trở lại tôi sẽ viết nốt những gì lớn lao mà tôi đã trải qua từ khi xa nó, xa cuốn nhật kí thân yêu đầu tiên của đời lính. Nếu như tôi không trở lại - Ai sẽ thay tôi viết tiếp những dòng sau này? Tôi chỉ ước ao rằng, ngày mai, những trang giấy còn lại đằng sau sẽ toàn là những dòng vui vẻ và đông đúc. Đừng để trống trải và bí ẩn như những trang giấy này.

Một ngày cuối tháng 5/1972 - Hà Tĩnh:

- Anh lính binh nhì - Kính chào hậu phương, kính chào gia đình và người tôi yêu. Đêm nay tôi đi. Nhất định sẽ có ngày trở về Thủ đô yêu quí của lòng tôi...!

Cái linh cảm về sự ra đi không trở lại của mình, cái niềm tin của ngày chiến thắng đau đáu trong anh. Cũng như nhiều đồng đội khác, anh đã vĩnh viễn ra đi và không bao giờ còn trở lại. Ngày chiến thắng trở về đã không có bóng anh. Anh đã sống và chết như bao nhiêu người lính khác: giản dị và thật bình tâm. Anh đã hoá thân vào sông núi, cỏ cây, gửi lại cho đời bao ước vọng khát khao cháy bỏng, gửi niềm tin vào đất, vào hồn của núi, của sông, của muôn triệu con tim Việt Nam. Anh đã ra đi với một nỗi trăn trở ai sẽ thay anh viết tiếp những trang đời? Ai sẽ thay các anh hoàn thành tiếp những dự định dở dang, sẽ thay các anh thực hiện tiếp những ước mơ khát vọng, sống cho các anh phần đời mà các anh chưa kịp sống? Và chúng ta hôm nay, sẽ sống như thế nào để cho sự hi sinh của các anh không bao giờ là uổng phí. Câu trả lời đó dành cho các bạn trẻ của chúng ta. Câu trả lời đó, cô tin rằng các em sẽ tìm thấy khi đọc cuốn nhật kí Mãi mãi tuổi hai mươi của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc! Thư viện nhà trường luôn rộng cửa đón các em đến với tâm hồn cao đẹp của người lính bất tử trong trái tim mỗi người con Đất Việt này!

Đồng Hới, tháng 10 năm 2014.

Hà Thị Thanh Xuân – Trường THCS Số 1 Nam Lý

 

Biên tập: Hoàng Công Hậu

Đóng góp ý kiến Bản in
Họ và tên*
Email*
Phản hồi*
  Mã xác nhận: 8341